IndexIndex  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 kỳ cục án 1

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
chém văn gió
Trung úy 5
Trung úy 5


Tổng số bài gửi : 400
Points : 750
Cảm ơn : 19
Ngày nhập ngũ : 14/12/2010

Bài gửiTiêu đề: kỳ cục án 1   Thu Jan 27, 2011 7:45 am

Những vụ án hết sức kỳ cục diễn ra ở nơi "thâm sơn cùng cốc" khiến cho các phiên xử trở thành những phiên tòa đặc biệt.

Vụ án "chơi" con cọp

Một ngày cuối tháng 11-1999, một người
đàn ông dân tộc Cơ Tu dẫn vợ và ba đứa con lội bì bõm trong nước lũ vào
trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Hôm ấy anh ta phải ra tòa nhưng
nước lũ đã tràn ngập phòng xử. Các thẩm phán và thư ký tòa lo dọn hồ sơ
đưa lên cao.

Người đàn ông nói với chánh án lúc ấy là
ông Trần Ngọc Triều: “Mình là Zơ Râm Mạnh, đi từ huyện Giằng xuống đây
cho tòa xử. Tòa không xử thì bữa sau đòi mình không xuống nữa đâu nghe”.

Phiên tòa đặc biệt

Ông Triều hỏi lại: “Anh ra tòa mà còn
dẫn vợ con đi theo làm chi?”. Zơ Râm Mạnh: “Mình nghe nói tòa hay bỏ tù
mấy người như mình. Mình dẫn vợ con theo để tòa bỏ tù mình thì... bỏ tù
vợ con mình luôn. Bọn hắn ở nhà không có ai nuôi, cũng không có cái chi
ăn. Nghe nói ở tù có cơm ăn, mà ăn no nữa. Dẫn theo là rứa đó”.



Vụ án chơi "con cọp"

Nước lũ ngập lênh láng phòng xử. Hội
đồng xét xử ngồi ghế, co hai chân lên. Đại diện Viện Kiểm sát phải đứng
trong nước ngập gần tới đầu gối để đọc cáo trạng. Luật sư không có. Vành
móng ngựa trôi bềnh bồng trong nước. Bị cáo Zơ Râm Mạnh được cho
phép... đứng trên ghế khai báo. Vợ con bị cáo cũng được đứng trên ghế
xem tòa xử, cứ y như cả nhà đang đứng chào cờ! Phiên xử diễn ra trong
khi bên ngoài trời mưa tầm tã.

Cáo trạng ghi rõ: Zơ Râm Mạnh nuôi năm
con bò, thả rông trên núi. Một hôm đi đếm bò, Mạnh chỉ đếm được... bốn
con rưỡi, nửa con còn lại đã bị ăn thịt, mất hết ruột gan. Biết là có
cọp về ăn bò của mình, lại tiếc của, Zơ Râm Mạnh quyết “chơi” con cọp.
Mạnh chỉ nghĩ nếu không “chơi” con cọp này, nó sẽ ăn hết bò của mình.

Mạnh đem cuốc thuổng đào một cái hố sâu
2m, đặt chiếc bẫy thò có lò xo cực mạnh, gắn một cục thịt bò làm mồi.
Sáng hôm sau lên núi, Mạnh thấy con cọp đã dính chân trái trước vào bẫy.
Thấy Mạnh tới, con cọp hung hăng gầm thét nhảy nhót nhưng không cách
chi thoát khỏi bẫy được. Vừa mừng vừa sợ, Zơ Râm Mạnh chạy về làng huy
động bốn anh em hàng xóm vác đòn dài chạy lên... đánh cọp.

Bị đánh bằng cây, con cọp càng hung hăng
gầm thét hung lên. Có lần hắn đã nhảy lên tới gần miệng hầm. Zơ Râm
Mạnh sợ quá cũng muốn... kính thả ông ba mươi này chạy đi cho rồi nhưng
không biết làm sao mở bẫy ra. Bỗng dưng Mạnh nhớ ra nhà mình còn... cây
súng cũ với hai viên đạn. Mạnh chạy về đem súng lên, lau chùi đạn rồi
pằng pằng hai phát vào lưng ông ba mươi. Đến bấy giờ “ngài” mới chịu
chết hẳn.

Mạnh làm thịt con cọp ngay trong rừng,
lấy bộ da và bộ xương bán được gần 10 triệu đồng. Có tiền rủng rỉnh,
Mạnh rủ hàng xóm xuống thị trấn Thạnh Mỹ (huyện Giằng, nay là huyện Tây
Giang) uống rượu. Rượu vào, Mạnh cao hứng khoe với mọi người: “Mình chơi
được ông ba mươi đấy”.

Tiếng đồn tới tai Hạt Kiểm lâm huyện
Giằng. Ngành kiểm lâm làm việc với Zơ Râm Mạnh. Trong biên bản làm việc,
Mạnh thành thật nhận tất cả chuyện mình đã trừng trị ông ba mươi. Ngành
kiểm lâm gửi hồ sơ đề nghị ngành công an khởi tố bị can, khởi tố vụ án.

Kết luận điều tra của Công an tỉnh Quảng
Nam ghi rõ bị can Zơ Râm Mạnh có dấu hiệu phạm hai tội: sử dụng trái
phép vũ khí quân dụng (điều 95), vi phạm các quy định về quản lý và bảo
vệ rừng (điều 181) theo Bộ luật hình sự năm 1985.

Hổng dám “chơi” con cọp nữa!

Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh
Quảng Nam nghiên cứu hồ sơ vụ án, nhận định Zơ Râm Mạnh là người dân tộc
Cơ Tu, chưa hiểu rõ cọp là động vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ, chưa
nhận thức được trách nhiệm phải bảo vệ động vật hoang dã. Việc giết cọp
của bị can chẳng qua chỉ là hành động nhất thời tự phát nhằm bảo vệ đàn
bò, chứ không chủ tâm xâm hại thiên nhiên. Viện Kiểm sát “bớt” cho tội
danh vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng, đề nghị tòa chỉ xét
xử bị cáo Zơ Râm Mạnh theo tội danh sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.

Tòa thẩm vấn bị cáo Mạnh: “Anh có biết
cọp là động vật quý hiếm không?”. Zơ Râm Mạnh: “Làm chi mình biết được.
Hắn ăn bò của mình, mình tức, rứa thôi”. “Khi cọp dính bẫy rồi anh có
muốn thả cho nó đi không?”. “Có chớ, mình sợ hung, muốn thả nhưng làm
răng dám xuống hố mở bẫy. Hắn nổi điên chụp cho mình một cái là chết.
Hắn gầm thét và nhảy quá lắm”. “Chính vì vậy mà anh đem súng đạn bắn
cọp?”. “Dạ phải”. “Súng đạn ở đâu anh có?”. “Mình mua của mấy thằng đào
vàng”. “Anh bắn mấy viên đạn?”. “Mình bắn hai viên. Hết đạn rồi”. Tòa
đành lắc đầu cười.

Tòa tuyên án: Zơ Râm Mạnh có hành vi sử
dụng trái phép vũ khí quân dụng để bắn cọp, bị phạt 18 tháng tù cho
hưởng án treo, thử thách 36 tháng. Tịch thu tang vật là cây súng, giao
cho bên quân đội quản lý; tịch thu chiếc bẫy thò tiêu hủy.

Tòa giải thích thêm cho Zơ Râm Mạnh
hiểu: án treo có nghĩa là không bị nhốt trong tù, vẫn được ở nhà với vợ
con làm ăn sinh sống nhưng không được làm việc chi trái pháp luật. Cọp
là loài thú quý hiếm. Hắn có lỡ ăn bò thì phải tìm cách giữ bò ở nhà,
khua mõ gõ chiêng đuổi hắn đi chứ không được đào hầm đánh bẫy và giết
hắn. Zơ Râm Mạnh còn phải về nói lại với cộng đồng bà con Cơ Tu không
nên đi săn bắn thú rừng; đặc biệt là không được phép giết cọp.

Zơ Râm Mạnh nghe rõ mọi điều. Anh cười
tươi, cõng thằng con út trên vai lội ra khỏi phòng xử trong khi nước đã
lên đến ngang lỗ rún anh. Chị vợ cõng thằng con giữa, thằng con lớn lội
theo cha mẹ, nước lên tới ngực. Các thẩm phán và kiểm sát viên nhìn thấy
cảnh ấy góp người 10.000 đồng, người 5.000 đồng đưa cho vợ Zơ Râm Mạnh.
Ông chánh án Trần Ngọc Triều kêu Zơ Râm Mạnh lại dặn: “Anh chị phải tìm
chỗ mô khô ráo cho mấy đứa nhỏ ở lại. Nhớ mua cơm cho tụi hắn ăn, đừng
để con đói. Nước rút xong mới được về trên Giằng, nghe chưa?”.

Mạnh nghe ra, đến lúc đó mới hết sợ các
ông tòa. Anh nói cứng: “Mình thông rồi. Đêm nay nhà mình ngủ ở Tam Kỳ,
mai mới về Giằng. Có tiền mấy ông cho, mình ăn... cơm tiệm. Từ nay mình
hứa với ông tòa lớn không dám làm chi con cọp nữa mô”.

Từ sau khi ra tòa, Zơ Râm Mạnh thật
sự... kính trọng con cọp. Hóa ra ông ba mươi này có tên trong sách đỏ
sách xanh chi chi đó. Đi đâu anh cũng nói với bà con Cơ Tu: “Đừng chơi
con cọp như mình nghe bà con. Ai mà chơi như mình là bị mấy ông tòa phạt
án ở chớ không phải án treo ngủ tại nhà như mình đâu. Mình là đặc biệt
hung mới được về nhà. Nhớ đó”.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
chém văn gió
Trung úy 5
Trung úy 5


Tổng số bài gửi : 400
Points : 750
Cảm ơn : 19
Ngày nhập ngũ : 14/12/2010

Bài gửiTiêu đề: phần 2   Thu Jan 27, 2011 7:46 am

Tháng 2 dương lịch, khung cảnh cao nguyên Gia Lai thật đẹp. Rừng cứ như
tranh vẽ, có mảng xanh mơn mởn, có mảng vàng như nghệ, có mảng chuyển
sang màu đỏ tía. Ấy là màu lá cao su, màu lá phù hợp với tuổi của từng
vạt rừng.

Rơchăm Sơn đi kiện

Tôi lội qua những nẻo đường đất badan
đỏ, tìm nhà Rơchăm Sơn. Tôi không quen biết gì với chị nhưng qua câu
chuyện mà Tòa án nhân dân huyện K thuật lại, tôi thấy vừa buồn cười vừa
thương cho chị. Thôi thì đến thăm chị, an ủi chị một lời cũng là một
việc nên làm.

Thịt trâu, rượu nồng...

Rơchăm Sơn “bắt chồng” năm chị 17 tuổi.
Họ ăn ở với nhau trên mười năm, không có mụn con nào cho vui nhà vui
cửa. Rồi anh bị bệnh sốt rét, hết thầy mo đến trung tâm y tế chữa mà
bệnh vẫn không hết. Anh về với đất, bỏ lại chị một mình ở cái tuổi ngấp
nghé 30.

Rơchăm Sơn buồn lắm, ban đầu khóc hoài, sau đó hết khóc nhưng vẫn buồn ngấu buồn nghiến. Buồn mà không biết nói ra với ai.



Trong cơn say, Rơchăm Sơn đã không thể kiềm lòng và mang trong mình giọt máu mà không biết là của ai

Tháng 11 vừa rồi làng mở hội đâm trâu ăn
mừng. Con trâu tơ béo mập, rượu cần thơm phức, đống lửa sáng bập bùng,
tiếng cồng chiêng nhịp nhàng, tiếng người nói cười râm ran... đã bứng
cái chân Rơchăm Sơn ra khỏi cái nhà.

Đêm hội thật vui. Rơchăm Sơn cùng xẻ
miếng thịt trâu nướng vừa chín tới chấm muối ớt ăn với cơm nếp, cùng kéo
cái cần ống trúc xuống vừa tầm để rượu đổ vào cái miệng mình. Đêm đó
chị uống thật nhiều, cười vang như suối đổ rồi say lúc nào không hay.
Khi chị ngất ngưởng trở về thì con trăng non đã muốn nghiêng xuống ngọn
đồi trước mặt.

Cái rượu thật lạ, nó khiến máu người ta
chạy rần rật, lại càng khiến người ta mạnh dạn hẳn lên, ước mơ một cái
chi chi đó. Rơchăm Sơn bước đi, cũng ước mơ một cái chi đó nhưng không
biết hắn là cái chi. Rồi chị cất tiếng hát, vừa đi vừa hát. Con người
chị như muốn bay lên khỏi mặt đất, như cái trăng non treo trên trời, như
cái gió mát đang thoảng qua ngàn cây.

Từ ngã ba hiện ra một thằng đàn ông.
Rơchăm Sơn biết thằng Ksor này. “Về sớm hử, Rơchăm Sơn?”. “Ừ, mình về
ngủ. Cái rượu say quá”. Rồi bỗng nhiên Rơchăm Sơn túm lấy cánh tay thằng
đàn ông: “Này, muốn “bắt cái nước” (*) không?”. Thằng đàn ông ngạc
nhiên: “Ở đâu, với ai?”. “Ở đây, với mình!”. Rơchăm Sơn kéo thằng đàn
ông vào một chỗ khuất.

Việc xong họ ra đi, ai đi đường nấy. Rơchăm Sơn tiếp tục đi về nhà mình. Cái rượu vẫn làm máu chạy rần rật, nghe thật ấm.

Người thứ hai mà Rơchăm Sơn gặp là một
thằng thanh niên. Chị “bắt” hắn ngay. Thằng nhỏ có vẻ vừa sợ sệt, vừa
mắc cỡ. Kệ hắn, chị lôi tuột hắn đi theo mình và cho hắn “bắt cái nước”.
Xong việc, thằng nhỏ chạy như bị ma rượt. Rồi Rơchăm Sơn gặp người thứ
ba, người thứ tư. Chị cũng cho hai người này “bắt cái nước” luôn.

Một đêm ấy chị cho bốn thằng “bắt cái
nước” với mình. Khi chị về tới nhà, con chó nhỏ chạy ra ngoắc đuôi mừng
chủ. Chị chỉ kịp vuốt đầu nó một cái rồi bịch ra chiếu, ngủ ngay. Thiệt
là một ngày và một đêm sảng khoái!

Hôm sau và liên tiếp những hôm sau đó
Rơchăm Sơn quên hẳn mọi chuyện. Nhớ cái đồ yêu ấy làm chi cho mệt! Nghĩ
thì nghĩ vậy nhưng lâu lâu Rơchăm Sơn nhớ lại và tự mỉm cười, không hiểu
sao hôm đó mình dạn dĩ vậy. Tất nhiên là chị giấu kín, không kể với ai.
Và cảm thấy thú vị một mình.

Lấy đâu con trâu lớn?

Vài tháng sau chị cảm thấy người khang
khác, cứ hay ớn lạnh về buổi chiều. Bưng cái cơm ăn, nhiều lúc chị muốn
ói mà chẳng hiểu là ói vì cái chi. Chị lên trạm xá xã khám bệnh. Bà
trưởng trạm khám cho chị thật kỹ, cũng chẳng ra bệnh gì. Rồi đột nhiên
chị lại ói.

Bà trưởng trạm hiểu ra, nói nhỏ: “Mày có
mang cái bụng rồi đó, Rơchăm Sơn”. “Là sao?”. “Trong bụng mày đang có
cái thai. Mày sẽ có con”. Rơchăm Sơn về nhà điểm danh lại bốn thằng đàn
ông đêm ấy. Chị biết hết tên tuổi của họ nhưng không hiểu được anh chàng
Ksor nào đã làm ra cái thai chi chi đó trong bụng chị. Mà cái bụng chị
thì theo ngày, theo tháng hắn cứ lớn lên, không giấu ai được nữa.

Mấy bà trong làng thấy tướng đi khệnh
khạng của chị bảo nhau: “Con Rơchăm Sơn có bụng rồi. Con của thằng nào
đó, Rơchăm Sơn?”. Chị không trả lời được.

Chính Rơchăm Sơn mới là người cần biết
điều đó hơn mấy bà. Rơchăm Sơn bèn cắt một nải chuối thật đẹp, đi đến
gặp ông thầy giáo trường tiểu học. “Mình nhờ ông thầy viết cho một cái
đơn”. “Đơn gửi cho ai, nói việc chi?”. “Gửi lên cái tòa án gì đó trên K,
nói về cái chuyện tìm thằng cha của đứa con trong cái bụng mình”.

Thầy giáo viết ngay cho Rơchăm Sơn. Ông
không khỏi buồn cười khi nghe Rơchăm Sơn kể lại chuyện đêm đó chị ăn nằm
với bốn anh chàng Ksor. Viết đơn xong, ông hướng dẫn Rơchăm Sơn ký tên
rồi nói: “Đem cái đơn này nộp vào tòa án huyện K. Nhớ nói đúng lời mình
dặn là “xin truy nhận cha cho con” nghe!”.

Sáu chữ đó khiến Rơchăm Sơn mừng quá,
lặp đi lặp lại mấy lần cho khỏi quên. Có vậy chớ, có đứa con thì phải có
thằng cha. Trong bốn anh chàng Ksor, cách chi tòa cũng tìm giúp cho
Rơchăm Sơn một chàng.

Bà thẩm phán T. nhận đơn của Rơchăm Sơn,
mời Rơchăm Sơn ngồi ghế và đọc đơn ngay. Bà đọc đi đọc lại mấy lần, lắc
đầu nguầy nguậy: “Khó xử lắm, chị Rơchăm Sơn à. Nếu mỗi anh Ksor gặp
chị ở mỗi con trăng khác nhau thì tòa có thể điều tra và biết được anh
nào là cha đứa bé. Đằng này cả bốn anh cùng một đêm...”.

Rơchăm Sơn cãi: “Phải có mấy thằng đó
thì mới có cái bụng này chớ”. “Đúng, nhưng mình phải hiểu rõ được là của
người nào. Thôi thì Rơchăm Sơn sinh xong đi rồi tòa mình sẽ hướng dẫn
cách đưa đứa bé đi xét nghiệm ADN”. “Là cái chi?”. “Là lấy một chút máu
đứa bé rồi lấy một chút máu của bốn anh Ksor kia để đối chiếu. Hễ kết
luận về di truyền máu đứa bé giống máu anh nào thì anh đó mới là cha đứa
bé”.

Rơchăm Sơn hơi lùng bùng cái lỗ tai khi
nghe chuyện xét nghiệm chi đó. Chị hỏi lại: “Cái này... làm ở Pleiku
phải không?”. “Pleiku mình chưa làm được. Phải đưa ra Hà Nội”. “Cái
này... ai bỏ tiền ra làm?”. “Rơchăm Sơn phải bỏ tiền ra”. “Bao nhiêu?”.
“Khoảng bằng giá một con trâu lớn, Rơchăm Sơn à”.

Một con trâu lớn! Tiền đâu Rơchăm Sơn
có? Bà tòa hiểu cái bụng của Sơn, động viên: “Bề gì nó cũng là con của
mình, đẻ ra rồi nuôi cho đàng hoàng. Nhớ đừng có nghe ai xúi biểu đi phá
thai, tội nghiệp lắm nghe, Rơchăm Sơn”.

Rơchăm Sơn ra trước cổng tòa ngồi khóc một chặp rồi trở về làng.

Tôi vào thăm nhà Rơchăm Sơn. Rơchăm Sơn
ngồi đó trên ngạch cửa, cái bụng đã hơi lớn. Tài sản của Rơchăm Sơn chỉ
là một nhà tranh cũ, một con heo ủn ỉn lê cái bụng sát đất, một con chó
ốm cất tiếng sủa cũng không nổi và mấy con gà đang bươi kiếm ăn ngoài
sân. Làm gì Rơchăm Sơn có được một con trâu?

(*) “Bắt cái nước” - một cách nói để chỉ quan hệ ân ái giữa nam và nữ.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
chém văn gió
Trung úy 5
Trung úy 5


Tổng số bài gửi : 400
Points : 750
Cảm ơn : 19
Ngày nhập ngũ : 14/12/2010

Bài gửiTiêu đề: phần 3   Thu Jan 27, 2011 7:48 am

Làng người Cà Dong nằm trong một thung lũng đẹp ở phía Đông Trường Sơn,
thuộc xã C, cách thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang (Quảng Nam) 30km
đường chim bay. Cuối năm 2003, bà con người Cà Dong trúng mùa. Làng
quyết định cúng Giàng một con trâu béo mừng lúa mới.

Vụ án con rọ rạy

Vạ miệng

Lễ hội diễn ra thật tưng bừng trong đêm
trăng sáng. Y Mảng sướng quá, thoải mái ăn mấy miếng thịt trâu nướng
trên than hồng và uống những tợp rượu cần. Đến hơn 9g tối anh ta đã say
bét nhè. Chạy đi tìm vợ, thấy chị đang vạch ngực cho con bú, miệng nhai
thịt trâu với cơm nếp, anh bảo: “Mình về trước đây”. Rồi chân nam đá
chân xiêu, anh bước trên đường mòn về nhà. Bỗng nghe soạt một cái, một
chị phụ nữ nhảy ra nắm lấy tay anh. Tưởng ai hóa ra là Y Phiên, chị đàn
bà chồng chết đã mấy năm nay, có tiếng chịu chơi trong làng. Y Phiên
cũng đã say, nắm tay Y Mảng rủ đi với mình. Y Mảng không ưng cái bụng
nên giằng mạnh tay một cái rồi tiếp tục đi. Cái giằng tay làm Y Phiên
lảo đảo. Chị cảm thấy tự ái dồn dập. Còn Y Mảng về tới nhà, ịch ngay
xuống chiếu. Ngủ!



Vụ án con rọ rạy

Sáng hôm sau, mặt trời lên đến một con
sào Y Mảng mới thức giấc. Anh giật mình thấy vợ đang ôm con ngồi bên
ngạch cửa, nước mắt chảy ròng ròng. “Cái chi rứa?” - anh hỏi. Chị òa
khóc lớn: “Hồi hôm mụ Y Phiên đi nói khắp đám đàn bà, con gái trong hội
đâm trâu là anh “bắt cái nước” với mụ nớ ngoài rẫy. Mình không muốn làm
vợ nữa. Mình về nhà mẹ đây”. Y Mảng vò đầu bứt tóc: “Mụ nớ nói láo”.

Bối rối như gà mắc tóc, anh không dám đi
súc miệng, rửa mặt, sợ vợ bồng thằng nhỏ đi thiệt. Hàng xóm nghe nhà Y
Mảng có chuyện ồn ào tới xem. Đúng lúc đó ông Y Lua, trưởng thôn, cũng
tới. Ông Y Lua ngồi vào chiếc chiếu giữa nhà, biểu Y Mảng đi súc miệng,
rửa mặt, biểu vợ Y Mảng nín khóc và biểu người đi mời Y Phiên đến gặp
ông. Phen này ông quyết xử án để làm rõ có hay không chuyện Y Mảng đã có
vợ mà còn đi “bắt cái nước” với Y Phiên.

Bằng chứng... con rọ rạy

Y Phiên đến, ông bắt ngồi dựa vách ván,
ngó ngay mặt ông. “Phiên tòa” làng bắt đầu với phần thẩm vấn các đương
sự. “Y Phiên, đêm qua mi nói với nhiều người rằng Y Mảng nó bắt cái nước
với mi, đúng không?”. Y Phiên gật đầu. “Y Mảng, đêm qua mi có làm việc
nớ không?”. “Không, mình thề trước Giàng và bà con rằng mình không làm
việc nớ”. “Được. Đứa khai rằng có, đứa nói rằng không. Trong thôn ni
mình là người đại diện cho... Chính phủ, bà con phải nghe mình. Con Y
Phiên nó đưa ra lời trước nên nó phải làm một cái đơn có cái chữ nói rõ
việc “bắt cái nước” xảy ra lúc nào, ở đâu, tại răng mà bắt được. Nó lại
phải kiếm mấy trăm ngàn đồng đi xuống Tam Kỳ ngủ lại một đêm, sáng hôm
sau vào bệnh viện cho mấy bác sĩ người Kinh khám và bắt con rọ rạy trong
người nó ra. Người bác sĩ sẽ cho nó một cái giấy chứng nhận có đóng dấu
đỏ, trong nớ nói rõ con rọ rạy này là do thằng Y Mảng đổ vào. Cái nớ
kêu là bằng chứng. Đem giấy này kẹp vào cái đơn đưa cho mình, mình sẽ
lôi thằng Y Mảng ra trước pháp luật”.

Y Phiên nghe trưởng thôn nói mà lạnh cả
xương sống. Ngay một lúc kiếm được mấy trăm ngàn đồng không dễ! Cái
chính là thằng Y Mảng nó có đổ con rọ rạy chi chi đó vào người chị đâu
mà biểu chị xuống Tam Kỳ cho người bác sĩ bắt nó ra. Lỡ người bác sĩ bắt
ra con rọ rạy của thằng khác thì lại ê cái mặt. Giàng ơi, chẳng qua
mình say rượu, nói bậy một cái mà chừ trở thành tai vạ lớn!

Y Phiên cúi đầu, suy nghĩ hung. Sau cùng
chị đành thú nhận: “Thưa trưởng thôn, đêm qua mình say rượu nên nói
trật. Cho mình nói lại: thằng Y Mảng không có “bắt cái nước” với mình”.
Trưởng thôn quắc đôi mắt nhìn khắp mọi người: “Bà con nghe rõ chưa? Con
vợ thằng Y Mảng nghe rõ chưa? Chưa đứa mô “bắt cái nước” với đứa mô hết.
Con Y Phiên nói láo, đáng lẽ mình phạt nó theo luật làng. Xét nhà nó
nghèo, tha cho nó chuyện mần heo, gà tạ lỗi nhưng phải bắt nó xin lỗi
làng và vợ chồng Y Mảng!”. Án được thi hành tại chỗ, Y Phiên xin lỗi mọi
người. Mặt vợ Y Mảng tươi như hoa.

“Bắt cái nước”, trả bầy bò

Ngày 6-3-2004, Ủy ban nhân dân xã P,
huyện P (Quảng Nam) nhận được “Đơn xin bắt bò” của bà Pơlong Chanh (tên
các nhân vật đã được thay đổi - NV). Đơn viết rõ: bà Chanh xin ủy ban xã
cho phép được bắt bảy con bò của thằng Arất Tỏi, người ngụ cùng xã.
Nguyên do là vì thằng Tỏi đã “bắt cái nước” với con gái bà là cô Alăng
Ngò bảy đêm ở trên rẫy.

Nhận được đơn, ông chủ tịch xã cho mời
cả đôi bên lên để giải quyết vụ việc. Bà Chanh trình bày: rẫy của bà và
rẫy của cha thằng Tỏi liền kề nhau. Mùa bắp lớn, con gái bà và thằng Tỏi
thường lên giữ bắp. Sau khi bị Tỏi “bắt cái nước”, đến đầu tháng 4 cô
Ngò đề nghị Tỏi hỏi cưới. Tỏi nói với con gái bà: “Đến 30 tuổi mình mới
cưới vợ!”. Bà cho biết năm nay thằng Tỏi mới 24 tuổi, cô Ngò không thể
chờ hắn đến sáu năm nữa. Cô về nhà thưa với mẹ, buộc thằng Tỏi phải đền
bò!

“Bị đơn” Tỏi trình bày trước ủy ban:
đúng là anh có ăn ở với cô Ngò bảy đêm. Cái bữa đầu tiên, cô Ngò hái bắp
đem qua chòi của Tỏi nướng ăn. Ăn xong, Tỏi nắm tay bảo Ngò trở về chòi
đi nhưng cô Ngò lại cười... Do vậy mà chuyện “bắt cái nước” xảy ra. Sau
đó, Ngò lại rủ Tỏi sang chòi canh rẫy của mình hai lần cũng để... ăn
bắp. Họ đã “ăn bắp” như vậy bảy đêm mà cô Ngò không nói chuyện bò trâu
chi hết.

Tỏi còn khai có một lần Ngò đề nghị Tỏi
chuyện hỏi cưới nhưng Tỏi nghĩ đàn bò nhà anh có đến 16 con, chăn đàn bò
đã mệt huống chi lại chăn thêm một con... vợ. Hôm kia, bà Chanh đến nhà
anh chửi anh là “thằng đểu giả, quân mất dạy”. Tỏi lẳng lặng nghe bà
chửi, không dám nói chi. Sau đó, anh tuyên bố dứt khoát: “Chừ thì mình
chưa cưới hắn được. Bả biểu mình đưa hết cả bảy con bò, mắc quá! Hắn cho
thì mình “bắt cái nước”, rứa thôi. Mình có biết chi mô nà”.

Chủ tịch ủy ban xã bảo “bị đơn” Tỏi ra
ngoài chờ rồi phân tích cho bà Chanh rõ: cô Ngò đã trên 20 tuổi, anh Tỏi
cũng 24 tuổi. Vụ việc... ăn bắp xảy ra là theo sự đồng tình của hai
người. Tỏi không dùng sức mạnh để “bắt cái nước” với Ngò. “Thằng” Tỏi
không phạm tội chi hết. Còn chuyện hôn nhân là do tự nguyện của đôi bên,
không thể vì chuyện đã “bắt cái nước” mà ép buộc được. Ủy ban xã không
đồng ý cho bà bắt bò của Tỏi, cũng không thể phạt vạ theo luật tục hay
buộc anh đền bù thiệt hại.

Bà Chanh chưng hửng, hiểu ra mình cứ
khăng khăng bắt bò là không chừng bị mắc tội. Ra về bà Chanh cứ lầm bầm
với con gái: “Tau hồi tê đi giữ rẫy có ăn uống chi mô. Tại mi ham... ăn
bắp quá!”.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
chém văn gió
Trung úy 5
Trung úy 5


Tổng số bài gửi : 400
Points : 750
Cảm ơn : 19
Ngày nhập ngũ : 14/12/2010

Bài gửiTiêu đề: phần 4   Thu Jan 27, 2011 7:49 am

“Phiên tòa” do già làng Pơloong Kiên ngồi ghế chủ tọa diễn ra trong nhà gươl của làng A, xã M, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

Giữa nhà gươl đốt một bếp lửa lớn. Đêm
ấy, đàn ông của 52 nóc (nhà) đều có mặt. Đàn bà không được phép lên nhà
gươl nhưng vẫn bồng con nhỏ đứng dưới đất dự thính. “Bị cáo” chính trong
phiên tòa là thằng Briu Nhanh, 20 tuổi, người Cơ Tu ta. Briu Nhanh bị
ông Alăng Xuân cáo buộc đã ăn trộm đôi dép mới của cô Alăng Thu, con gái
ông.

Đôi dép

Ông Xuân nói ngắn gọn chuyện thằng Nhanh
ăn cắp đôi dép của con gái ông nhưng chân hắn to, không mang được nên
mới đem đến nhà ông trả lại. Luật lệ của người Cơ Tu rất nghiêm, không
ai được xâm phạm vật gì của ai. Ông đề nghị già làng phạt thằng Nhanh.

Già làng nghiêm khắc nhìn vào mặt Nhanh,
buộc Nhanh trả lời có ăn cắp dép của Alăng Thu không. Nhanh cúi mặt,
nuốt nước miếng ừng ực. Già làng hỏi đến lần thứ ba, anh lắc đầu nói:
“Mình không ăn cắp”. Già làng hỏi vặn: “Rứa đôi dép từ mô mà mi có?”. Cả
làng chờ đợi, cuối cùng Nhanh phải khai ra sự thật.

Cách đó mấy hôm, buổi trưa Nhanh đi dọc
bờ suối hái rau dớn. Mới hái được một nắm Nhanh nghe có tiếng động trên
mặt nước. Ngỡ là có con thú đến uống nước, Nhanh se sẽ bước tới chỗ bụi
cây nhìn ra suối. Hóa ra tiếng động đó là cô Alăng Thu... đang tắm.
Alăng Thu là học sinh trường dân tộc nội trú. Hôm ấy cô được nghỉ học,
từ trên thị trấn P về nhà, đi tắm suối.

Nhanh thú nhận trước nay anh chưa hề
được nhìn thấy thân hình con gái nên... tò mò, chừ có dịp phải ngó thử
coi hắn ra răng. Anh níu tay lên một nhánh cây, định nhìn cho rõ hơn thì
rắc một tiếng, nhánh cây gãy, đầu chạc cây cứa vào bắp tay anh. Sảng
hồn, anh “á” lên một tiếng.

Biết có người nhìn lén mình tắm, Alăng
Thu hoảng hốt quơ lấy cái xà lùng mặc vào người đi về ngay, bỏ quên đôi
dép mới bên bờ suối. “Mình lượm đôi đép của Alăng Thu đem về định đưa
lại cho hắn, nhưng nếu mình đưa thì lòi ra cái tội... ngó hắn tắm, nếu
không đưa thì cũng phạm tội ăn cắp. Xấu hổ quá, mình xin thú thiệt trước
làng chỉ mới ngó được cái lưng của hắn chớ chưa ngó được cái chi hết”.

Lời “thú tội” của Briu Nhanh làm mấy
chục người đàn ông sảng khoái cười ha hả. Đến cả ông Alăng Xuân cũng
khoái tỉ vì nghĩ con gái mình đẹp nên hắn mới lén xem.

Già làng vỗ tay ra hiệu cho mọi người
ngưng cười. Ông hỏi: “Trong anh em, có ai chưa hề dòm lén bọn con gái
tắm suối thì giơ tay lên”. Từ ông già già cho đến ông tre trẻ không có
ai giơ tay cả. Briu Nhanh thở một cái khì, rất sướng cái bụng.

Già làng kết luận: “Cái chuyện dòm mấy
đứa con gái tắm suối thì anh em hồi trai trẻ cũng đã từng dòm, kể cả
mình. Cái vụ này không phạm tội chi hết. Nè Briu Nhanh, nói mẹ mi kiếm
con heo, con gà sang nhà ông Alăng Xuân đi. Nói vậy Alăng Xuân có thông
không?”. Alăng Xuân gật đầu nói có, hí hửng cười.

Tình già gãy gánh

Ông K. sinh năm 1920, ngụ tại buôn Đuk,
xã Chư Gu, huyện Krong Pa, tỉnh Gia Lai. Ông sống buồn chán trong cảnh
đơn độc sau khi vợ bị sét đánh chết năm 1993. Chín người con đã trưởng
thành cũng không làm ông K. vui được.



Tình già đứt gánh

Bà H. sinh năm 1947, cũng ngụ tại buôn
Đuk, xã Chư Gu, cũng sống trong cảnh buồn chán từ khi chồng bị bệnh chết
năm 1992, mặc dù bà đã có bảy đứa con. Tình cờ một ngày đầu xuân năm
1996, ông K. đi rẫy gặp bà H.. Cả hai cùng người dân tộc Jarai nên thân
nhau liền. Ba hôm sau gặp nhau trên rẫy bà H. hỏi: “K., tao muốn bắt mày
làm thằng chồng. Mày ưng cái bụng không?”. Ông K.: “Ưng. Nhưng nhà tao
nghèo lắm”. “Mày về nhà tao ở, nhà tao cũng nghèo”. Thế là họ cưới nhau,
chỉ đốt có một con bò, không làm lễ cưới.

Ngày 10-4-1996, ông K. ra chợ Chư Gu mua
một bản sao giấy chứng nhận kết hôn, nhờ ông thầy giáo trong buôn biết
cái chữ người Kinh viết giùm, ký tên luôn cho cả hai vợ chồng, rồi đem
tới... nhà ông chủ tịch xã chứng nhận. Chủ tịch xã ký tên, đóng dấu cái
rụp. Sống chung được sáu tháng, cuối năm 1996 bà H. dứt khoát đuổi ông
K. ra khỏi nhà! Họ không muốn nằm chung với nhau nữa.

Nghe nói người Kinh có cái tòa chi đó
giải quyết chuyện ly hôn, ông K. bèn nhờ người làm đơn gửi đến Tòa án
nhân dân huyện Krong Pa xin ly hôn. Tòa mời hai bên lên hòa giải đến bốn
lần không thành.

Tòa hỏi ông K.: “Vì sao muốn bỏ bà H.?”.
Ông K. đáp: “Nó đối xử không công bằng với con ta. Tính ta và tính nó
không hạp nhau; con riêng của ta và con riêng của nó đông quá. Nó không
để cho ta “bắt cái nước”, đêm nào cũng đạp ta rớt xuống khỏi giường và
đuổi ta ra khỏi nhà”.

Tòa hỏi bà H.: “Vì sao muốn bỏ ông K.?”.
“Thằng K. lấy ta mà không ngủ ở nhà, cứ ra ngoài rẫy ngủ miết. Con
riêng của ta bị đau, ta gọi thằng K. về làm lễ cúng Giàng mà nó vẫn
không chịu về cúng theo phong tục người Jarai. Ta bị bò cạp cắn tay,
ngón tay sưng vù như cái ống nứa, thằng K. cũng không hỏi han một lời
nên ta muốn bỏ nó”. Tòa hỏi: “Hồi trước có thương không?”. “Thương”.
“Còn bây giờ?”. “Ta ghét, không thèm nhìn mặt nữa”.

Ông K. yêu cầu bà H. phải đốt bò bồi
thường danh dự cho mình theo tập quán người Jarai. Ngược lại, bà H. cũng
đòi ông K. bồi thường danh dự 15 con bò sống mới chịu ly hôn. Trong lần
hòa giải thứ tư, bà H. hạ giá: “Nó phải đốt một bò chết và đưa hai bò
sống thì ta mới ký bản thuận tình ly hôn”.

Tòa đi xác minh, hỏi ông chủ tịch ủy ban
xã Chư Gu tại sao ký vào bản sao giấy chứng nhận kết hôn như vậy. Chủ
tịch xã trả lời: “Trước năm 1996 xã không có cán bộ tư pháp chuyên lo
việc đăng ký kết hôn. Ai muốn kết hôn cứ tự mua giấy viết sẵn đem đến
cho chủ tịch hay phó chủ tịch xã ký vào là xong”

Ngày 25-8-1998, Tòa án huyện Krong Pa
đưa vụ kiện xin ly hôn ra xét xử sơ thẩm. Tòa nhận định: việc chủ tịch
xã ký chứng vào bản sao giấy chứng nhận kết hôn cho ông K. và bà H. là
không đúng quy định Luật hôn nhân và gia đình và các quy định về đăng ký
hộ tịch. Giấy chứng nhận này không có giá trị pháp lý. Tòa tuyên: hủy
bỏ giấy chứng nhận kết hôn, giữa ông K. và bà H. không có quan hệ vợ
chồng theo pháp luật. Ông K. không phải bồi thường tiền bạc cho bà H..
Bà H. làm đơn chống án.

Trong phiên xử phúc thẩm ngày 6-11-1998,
Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai nhận định: Việc kết hôn giữa ông K. và bà
H. không được ghi vào sổ lưu; mẫu giấy chứng nhận được dùng là bản sao,
không phải bản chính. Đã vậy ông K. làm bản đăng ký không có sự tự
nguyện đồng ý của bà H.. Ông K. nhờ người khác viết và ký tên; bà H.
không biết được việc đăng ký kết hôn này. Giấy chứng nhận kết hôn này do
vậy không có giá trị pháp lý. Giữa hai người không có con chung, không
có tài sản chung. Cho nên án sơ thẩm hủy bản sao giấy chứng nhận kết hôn
là đúng.

Tòa cũng thấy không có cơ sở để kết luận
ông K. xâm phạm danh dự của bà H. nên không thể buộc ông K. bồi thường.
Tình già gãy gánh!
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
chém văn gió
Trung úy 5
Trung úy 5


Tổng số bài gửi : 400
Points : 750
Cảm ơn : 19
Ngày nhập ngũ : 14/12/2010

Bài gửiTiêu đề: phần 5   Thu Jan 27, 2011 7:50 am

Ông chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện I (Đắk Lắk) nhận lá đơn thưa
của con trai ông T. viết rằng: Ông C., người cùng xã, đã vô cớ bắt con
trâu một tuổi của gia đình anh mà không chịu trả lại.

Chuyện trâu bò

Chủ tịch xã hội ý với bên công an. Buổi
hội ý thống nhất: Mời ông C., người bắt trâu; ông T., người mất trâu và
con trai ông T., người đứng đơn thưa, lên ủy ban để giải quyết vụ việc.
Hóa ra đó là một vụ án ly kỳ!

Vụ mất trâu không kiện...

Mười một năm sau khi vợ mất, ở vào tuổi
51 ông T. vẫn khỏe mạnh. Sáng 13-1-2004, ông thức sớm đi tập thể dục như
lệ thường. Ông dẫn theo con trâu một tuổi mập cui láng kít cho nó ăn
cỏ, gọi là có bạn.

Trên đường đồi vắng vẻ, ông nghe có
tiếng bước chân người đi về phía mình. Hóa ra đó là cô I., người cùng
thôn với ông. Cô I. tròm trèm 40 tuổi, chưa có chồng nhưng đã tranh thủ
“cải thiện” được hai đứa con và nhan sắc vẫn mặn mà!

Sáng ấy cô I. gánh một gánh phân chuồng
đi ngược về phía ông. Khi đến trước mặt ông cô dừng lại, để gánh xuống
và mở miệng chào. Thấy nụ cười xinh xắn của cô hàng xóm vất vả, ông T.
xúc động cồn cào gan ruột, đỡ đòn gánh định gánh giúp. Trời xui đất
khiến làm sao bàn tay ông lại đặt đúng lên bàn tay cô. Cô I. không rút
tay lại, chỉ nhìn xuống đất rồi... cả hai đồng lòng đưa nhau vào một bụi
rậm “nói chuyện”.



Mất trâu vì mải "mây mưa" với cô hàng xóm

Tàn cuộc mây mưa cô I. không nói một
lời, lặng lẽ gánh phân ra ruộng. Ông T. sau khi định thần lại mới sảng
hồn vía vì không thấy con trâu cui đâu nữa. Ông chạy khắp đồi, khắp
ruộng vẫn không thấy bóng dáng nó, đành thất thểu trở về nhà.

Ba ngày sau, ông T. nghe người trong xã
đồn con trâu của ông đang bị nhốt trong chuồng trâu của nhà ông C.,
người cùng xã. Ông T. vội vàng đến xem cho rõ thực hư. Đúng là con trâu
mập cui láng kít của ông rồi. Song trong cuộc nói chuyện tay đôi này,
thái độ ông C. rất căng thẳng. Ông C. kề miệng sát tai ông T. nói nho
nhỏ mấy câu. Ông T. liên tiếp gật đầu, mặt cứ tái mét. Tan cuộc nói
chuyện, ông T. đứng dậy xuôi cò ra về, không dám rờ tới… cái đuôi con
trâu dù nó đúng là con trâu của ông!

Người con trai lớn của ông T. thấy cha không dắt được trâu về thì lấy làm ức lòng. Anh bèn gửi đơn thưa ông C. ra ủy ban xã.

Trước chính quyền xã, ông C. khai ra mọi
diễn tiến gay cấn, éo le của buổi sáng hôm ấy. Chính ông là người trực
tiếp chứng kiến cảnh ông T. và cô I. cùng đưa nhau vào bụi rậm để...
“nói chuyện”. Trong lúc hai người mải mê giấc vu sơn thì con trâu thong
thả đi vào ruộng lúa mới trổ đòng của nhà ông C. ăn hết một vạt lúa. Tức
mình, ông C. nắm dây xỏ mũi dắt luôn con trâu về “tạm giam” trong
chuồng trâu của mình. Mấy ngày qua ông vẫn cho con trâu ăn uống tử tế.
Hôm ông T. tìm đến xin nhận lại trâu, ông C. có dọa rằng: “Hễ ông ngoan
cố đòi lại trâu thì tôi sẽ công bố chuyện ông và cô I. quan hệ ngoài
rừng”. Ông C. nhấn mạnh: ông chỉ dọa vậy cho ông T. nhớ mà chừa thôi chứ
không có ý định bắt luôn con trâu.

Mấy vị trong ủy ban và công an xã bấm
bụng cười thầm về câu chuyện mất trâu hi hữu này. Xã phân xử: ông T. ham
vui không quản lý trâu, để trâu ăn lúa của ông C. thì phải xin lỗi và
đền bù thiệt hại cho ông C. số tiền 100.000 đồng (trong đó bao gồm năm
ngày công chăm sóc và cho trâu ăn uống). Ông C. phải trả lại con trâu
cho nhà ông T.. Mọi chuyện ngoài con trâu là chuyện đời tư, xã không can
thiệp!

Và cái đuôi bò đứt

Ra trước Tòa án nhân dân huyện Trà My
(Quảng Nam) hôm ấy có ông Khánh, nguyên đơn và ông Thức, bị đơn. Cả hai
ông cùng ngụ một thôn ở xã Trà Dương.

Ông Khánh trình bày: ông đã 75 tuổi,
không làm được việc nặng nữa nên chỉ còn cách nuôi bò kiếm thêm thu nhập
cho gia đình. Ngày 1-2-2000, con bò mẹ trong đàn bò của ông đẻ được một
chú bê đực. Khi chú bê mới được sáu ngày tuổi, ông cột con bò mẹ trong
chuồng, cho chú bê chạy chơi ngoài bãi trống để nó mau cứng cáp. Thấy
chú bê nhảy nhót, con chó nhà ông Thức chạy ra rượt táp vào mông làm đứt
hẳn một nửa đuôi bê.

Ông Thức xác nhận chính con chó nhà mình
đã cắn đứt đuôi chú bê. Thế nhưng khi ông Khánh đề nghị ông Thức đưa
200.000 đồng để thuốc thang cho chú bê, ông Thức không đồng ý. Ông Thức
yêu cầu ông Khánh đưa cả bò mẹ lẫn bê cho ông chăm sóc.

Tư pháp xã hòa giải đôi bên không thành
phải chuyển hồ sơ lên tòa. Bởi con bê đứt đuôi mất hết giá trị nên ông
Khánh đành bán cả mẹ lẫn con với giá 1,8 triệu đồng. Theo ông Khánh,
đáng ra phải là 2 triệu đồng. Ông đề nghị tòa buộc ông Thức phải đền bù
cho ông số tiền 200.000 đồng về việc chó nhà ông Thức cắn đứt đuôi chú
bê.

Về phía mình ông Thức lập luận: đúng là
con chó nhà ông đã táp đứt đuôi chú bê vì nó “nhìn thấy gai mắt” khi bê
ta chạy nhảy chứ không phải vì nó là chó dữ. Chuyện chó cắn đứt đuôi bò
là chuyện của… chó chứ ông không biểu nó cắn! Ông Khánh yêu cầu ông đền
số tiền 200.000 đồng thuốc thang cho chú bê là quá đáng, ông Thức sẵn
sàng trả tiền thuốc thang điều trị chứ không đồng ý đưa tiền. Còn việc
ông Khánh bán bò hạ giá là do cần tiền gấp chứ không phải do con bê đứt
đuôi mà ra.

Bút ký tòa ghi lại đoạn hỏi đáp: Thẩm
phán: Ông Thức, con chó nhà ông có phải là chó dữ không? Ông Thức: Mô
có, thưa tòa. Hắn hiền khô à. Thẩm phán: Hiền khô sao hắn cắn đứt đuôi
con bê của ông Khánh? Ông Thức: Thưa tòa, ấy là vì nó nhìn thấy cái đuôi
con bê cứ cà tưng cà tưng nên nó gai con mắt. Thẩm phán: Mấy con bò
khác cái đuôi cũng cà tưng cà tưng răng chó ông không cắn? Ông Thức: Cái
ni thì tui chịu. Hắn ưng cắn thì hắn cắn chớ tui có biểu hắn cắn mô.

Tòa đồng ý rằng ông Thức không bảo con
chó của mình cắn đứt đuôi bò ông Khánh nhưng theo luật dân sự, khi vật
nuôi gây ra thiệt hại cho người khác thì chủ vật nuôi phải có trách
nhiệm bồi thường.

Theo thời giá ở địa phương, một chú bê
giá 400.000-500.000 đồng. Quan niệm của người nuôi bò ở Trà My cũng rất
rõ ràng: bò phải có đầu, có đuôi hoàn chỉnh. Việc con chó cắn đứt đuôi
làm giảm hẳn giá trị của chú bê. Bò cụt đuôi rất khó bán, ngay đến những
nơi giết mổ cũng ít khi chịu mua. Nếu còn đủ đuôi, cả bò mẹ và bò con
bán có thể hơn 2 triệu đồng nhưng do bò con đứt đuôi nên ông Khánh chỉ
bán được 1,8 triệu đồng. Việc ông Thức không chịu đền bù cho ông Khánh
là thiếu thiện chí, thiếu trách nhiệm.

Tuy nhiên, tòa cũng nhận thấy chuyện chó
cắn đứt đuôi bò là cái rủi của đôi bên nên mỗi bên cần chấp nhận một ít
thiệt thòi để giữ cho tình làng nghĩa xóm được bền vững. Tòa buộc ông
Thức phải bồi thường cho ông Khánh 175.000 đồng tiền giá trị chú bê giảm
sút do đứt đuôi. Ngoài ra, ông Thức phải chịu 50.000 đồng tiền tạm ứng
án phí.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
chém văn gió
Trung úy 5
Trung úy 5


Tổng số bài gửi : 400
Points : 750
Cảm ơn : 19
Ngày nhập ngũ : 14/12/2010

Bài gửiTiêu đề: phần cuối   Thu Jan 27, 2011 7:51 am

Ông Cao Xà Bân là chiến sĩ lão thành đã tham gia hai cuộc kháng chiến,
nhà ở thôn 2, xã Khánh Trung (Khánh Vĩnh, Khánh Hòa), cạnh nhà vợ chồng
Cao Ly Ngân.

Tình nghĩa xóm giềng

Vợ Ngân bị sốt rét nặng. Ngân phải đưa
vợ lên Bệnh viện Khánh Vĩnh nằm lại bảy ngày bảy đêm, quên mất chuyện...
con heo nái 50kg sắp đẻ còn bị nhốt trong chuồng không có chi ăn.

Vụ án con heo nái

Nhịn cái gì thì cũng được nhưng nhịn...
đẻ e rằng không! Con heo nái đến ngày đẻ, cắn chuồng ra rẫy để lót ổ. Nó
đi vào vạt ruộng lúa chín vàng của ông Bân, cắn nát một vạt lúa lớn rồi
quây rơm lại làm ổ. Nó đẻ được hai con heo con tròn múp.

Ông Bân ra thăm ruộng định gặt lúa, thấy
con heo đẻ phá lúa thì giận lắm. Ông coi con heo cắn phá lúa của ông
cũng như... heo rừng. Ông Bân kêu người đến bắn con heo mẹ làm thịt, mời
cả xóm ăn tiệc thịt heo. Ông lại bắt thêm một con heo con, con còn lại
để cho vợ chồng thằng Ngân “làm vốn”.



Vụ án con heo nái

Bảy ngày sau vợ chồng Cao Ly Ngân về,
tìm heo không thấy. Người trong xóm cho biết ông Bân đã làm thịt mời họ
ăn rồi. Cao Ly Ngân làm đơn thưa ông Bân gửi lên Ủy ban nhân dân xã
Khánh Trung, đòi ông Bân phải trả lại con heo nái 50kg.

Xã xử: con heo nái cắn phá lúa là có
tội, bắn nó làm thịt ăn là đúng (!). Thế nhưng ông Cao Xà Bân ăn hết
50kg thịt thì quá nhiều. Ông phải trả lại cho Cao Ly Ngân 25kg thịt heo.
Hai con heo con chia hai nhà, mỗi nhà một con làm giống.

Cái luật làng của người Raglay là vậy
nhưng dường như Cao Ly Ngân không ưng cái bụng lắm. Anh làm đơn kiện dân
sự, gửi lên Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, quyết đòi ông Bân trả con
heo nái. Nghe thằng Ngân kiện mình, ông Bân thách: “Hắn kiện kệ hắn.
Heo hắn vào cắn lúa mình, mình bắn làm thịt cho hắn kinh”.

Nhận được đơn kiện, chánh án Binăng Quang mời thêm một kiểm sát viên cùng về xã Khánh Trung, nhờ xã gọi hai bên lên hòa giải.

Trước “phiên tòa”, lần lượt Cao Ly Ngân
rồi Cao Xà Bân trình bày vụ việc. Bên ủy ban xã cũng trưng ra biên bản
làm việc phân xử của mình. Ông Quang nhận xét: “Vụ việc đã được xã phân
xử theo luật tục của người Raglay nhưng đã xử... trật cái lệ rồi”.

Ông hỏi ông Bân: “Heo cắn hết bao nhiêu
lúa của ông?”. Ông Bân: “Một đám lớn lắm, khoảng bảy giạ”. “Như vậy, vợ
chồng thằng Ngân phải đền cho ông già bảy giạ lúa, nghe chưa”. Lại hỏi:
“Khi con heo cắn lúa, vợ chồng thằng Ngân có ở nhà không? Có biết
không?”. Ông Bân: “Hai đứa hắn không ở nhà. Bọn hắn đi bệnh viện nên
không biết”. “Phải rồi. Cho nên ta nói vợ chồng thằng Ngân không biểu
con heo ra cắn lúa của ông Bân. Vậy sao ông Bân nỡ bắn con heo đem làm
thịt?”. “Mình coi nó như heo rừng”.

Ông Quang cười, nhỏ nhẹ: “Không được đâu
ông Bân à. Heo nuôi ở nhà khác heo rừng chớ. Ông phải đền lại cho vợ
chồng thằng Ngân con heo nái 50kg và trả con heo con cho thằng Ngân. Nhà
ông Bân còn heo chớ?”. “Nhà mình còn heo”.

“Vợ chồng thằng Ngân phải trả lại cho
ông Bân bảy giạ lúa ngon, phơi khô, sàng kỹ, quạt sạch. Tôi xử vậy có
ưng cái bụng không, bà con?”.

“Xử đúng lắm thằng tòa à. Ưng bụng lắm
rồi” - đám đông trả lời. Ông Bân cũng gật đầu khen đúng. Biên bản hòa
giải thành được viết tại chỗ cho hai bên lăn tay. Cao Ly Ngân đòi được
con heo nái mới, dù không có sữa nhưng anh vẫn sướng. Anh nói với ông
Bân: “Ông già ơi, để tui mua rượu mời ông uống. Ông đừng bỏ tiền ra
nghe”.

Ông Bân: ”Ờ, mày mua đi. Mình chịu uống rượu của mày đấy!”.

Cây quế giữa rừng

Xã P (huyện P, Quảng Nam) là một xã miền
cao, giáp biên giới Lào. Phần lớn bà con trong xã là người Mơ Nông. Hai
ông Hồ Văn S. và Hồ Văn R. cùng là người Mơ Nông, từ lâu vốn là hàng
xóm tốt. Ông S. có một rẫy quế hai tuổi, ông R. có một rẫy quế bốn tuổi,
gần nhau.

Một ngày đẹp trời, ông S. cầm cây mác đi
thăm rẫy. Lên rẫy, tự dưng ông thèm... rượu. Nhìn những hàng quế hai
tuổi của mình, rồi nhìn qua những hàng quế bốn tuổi cao to, mơn mởn của
ông R., ông S. suy tính. Trong một lúc không tự chủ được, ông S. vào rẫy
của bạn chọn một cây quế đẹp nhất, thẳng nhất chặt ngay.

Hạ xong cây quế, chặt bỏ hết cành nhánh,
ông xòe gang tay đo, cứ bốn gang khứa một cái. Ông lột vỏ quế ngay tại
chỗ, lấy dây bó lại. Bước ra khỏi rẫy gặp một tay thương lái người Kinh
cưỡi xe gắn máy chạy qua, ông kêu lại bán mớ vỏ quế. Tay thương lái chê
ỏng chê eo, chê quế non không cay, không thơm... rồi trả cho ông 150.000
đồng mua mớ vỏ quế.

Có tiền trong tay, ông S. đi ngang quán
tạp hóa quơ hai chai rượu gạo, lại mua một đùm lòng heo, hành tỏi, rau
dưa. Rồi ông cầm cái bao nilông lùng nhùng đó ghé vào nhà ông R..

Thấy bạn đến mang theo rượu thịt, ông R.
cảm động lắm. Ông cũng đang thèm rượu. Hai ông bạn vàng nhanh chóng
nhóm bếp, cắt lòng, thái dưa, xào nấu thức ăn. Làm xong mồi nhậu, hai
ông trải chiếu ra sân “cưa” sạch hai chai rượu gạo. Ngấm rượu, cả hai
lăn ra chiếu ngủ đến chiều tối mới tỉnh giấc.

Hai hôm sau, ông R. lên thăm rẫy quế.
Giàng xui khiến làm sao lại gặp ngay tay thương lái người Kinh mua hàng
dạo đi qua. Tay thương lái khoe hai hôm trước mới mua được mớ vỏ quế bốn
tuổi của ông S. rất đẹp. Sinh nghi, ông R. chạy ngay vào rẫy của mình.

Nhìn gốc quế mới bị chặt, cành nhánh còn
tươi rói, ông R. hiểu ra mọi chuyện. Hóa ra lão S. đã chặt trộm quế của
ông! Ông bèn làm đơn thưa ông S. ra ủy ban xã.

Nhận được đơn thưa, ông chủ tịch ủy ban
xã P, cũng là người Mơ Nông, viết giấy mời hai ông S. và R. lên hòa
giải. Trước mặt chủ tịch xã, ông S. thừa nhận đã chặt trộm cây quế của
ông R. bán được 150.000 đồng.

Chủ tịch xã phân tích cho ông S. rõ:
Trước nay trong cộng đồng Mơ Nông chưa ai xâm phạm vật gì của ai. Việc
chặt cây quế trong rẫy ông R. để đem vỏ bán lấy tiền là sai. Số tiền
phạm pháp không lớn nên không bị xử lý hình sự. Để góp phần nhắc nhở ông
S. giữ đúng phép nước luật làng, ủy ban xã sẽ phạt hành chính ông S..

“Nhưng mình dùng số tiền bán vỏ quế mua
rượu và lòng heo rủ R. nhậu rồi. Mình đâu có nhậu một mình mà xã lại
phạt?” - ông S. gân cổ cãi. Chủ tịch xã muốn phì cười, tiếp tục giải
thích: “Khi ông rủ ông R. nhậu, ông không nói rõ số tiền mua mồi, mua
rượu là do chặt cây quế của ông R. mà ra. Vả chăng ông chỉ nhậu có mấy
chục ngàn, nghĩa là ông vẫn còn cất giữ cả trăm ngàn đồng do bán quế mà
có. Ông sai rồi”.

Chủ tịch xã quyết định: buộc ông S. phải
trả lại cho ông R. số tiền còn lại, phạt hành chính ông S. 100.000
đồng. Việc “thi hành án” được tiến hành tại chỗ, số tiền phạt sẽ đóng
sau khi nhận được quyết định. Ông S. móc túi quần, còn được 104.000 đồng
đưa cho ông R.. Hóa ra họ chỉ mới nhậu hết 46.000 đồng.

Trên đường về nhà, ông R. nắm lấy tay
bạn. “Cái chi rứa?”. “Lão S. cầm 50.000 đồng này đi, kiếm thêm 50.000
đồng nữa đóng tiền phạt. Mình còn 50.000 đồng đây, hai anh em mình đi
mua đồ nhậu”.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
chém văn gió
Trung úy 5
Trung úy 5


Tổng số bài gửi : 400
Points : 750
Cảm ơn : 19
Ngày nhập ngũ : 14/12/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: kỳ cục án 1   Thu Jan 27, 2011 7:52 am

kết thúc truyện dài tập.........anh em xem tết nha
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: kỳ cục án 1   Today at 2:49 am

Về Đầu Trang Go down
 

kỳ cục án 1

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Master-Ken :: OLD :: Thảo luận :: TIn VIP-
Chuyển đến